ảo thoại, dt
A: ventriloquism (văn TRI lơ quy zâm)
P: ventriloquie, f
H: fù yǔ shù 腹語術
(phúc ngữ thuật), phúc: bụng
N: fukuwajutsu 腹話術
ふくわじゅつ
fu ku wa ji yu tsu
Nghệ thuật hay cách luyện nói, mà không hay rất ít nhấp nháy môi, sao cho tiếng nói làm như không phát ra từ người nói, mà từ một nơi khác, như từ một hình nộm hay con rối chẳng hạn.
Người làm ảo thoại hay ảo thoại gia, thường mang theo một con rối có hình thù vui nhộn, bắt chước mặt người hay mặt thú, mà miệng thì có thể mở ra khép lại như để nói vậy. Diễn trò thường là một cuộc đối thoại giữa ảo thoại gia và con rối rất vui nhộn. Chung quy thì do ảo thoại gia nói hết. Khi ào thoại gia nói thì miệng ông ta nhấp nháy. Khi con rối nói thì miệng nó cũng nhấp nháy nhờ một bộ phận cơ khí mà ảo thoại gia dùng tay làm cho cử động và không cho người xem thấy. Tiếng nói của con rối chính là tiếng nói của ảo thoại gia phát ra từ miệng của mình nhưng không cho môi nhấp nháy, để người xem tưởng là tiếng nói đó là do con rối phát ra.
Cách tập nói mà không nhấp nháy môi rất công phu và tốn nhiều thì giờ. Thường thường người tập phải gồng bụng cho cứng, rồi đẩy hơi ra, làm rung lưỡi gà trong cổ họng để phát ra tiếng nói, trong khi đó thì thả lỏng hai môi không cho cử động, và hai hàm răng và hai môi cũng để hở he hé để cho tiếng nói đi ra, còn gọi là phóng tiếng nói ra xa. Bởi vậy kiểu nói này còn gọi là nói bẳng bụng, tiếng Hán gọi là phúc ngữ (phúc : bụng), tiếng Pháp là ventriloquie trong đó có ẩn chữ ventre: bụng.
Nghệ thuật ảo thoại này rất thịnh hành ở các nước ham chuộng nghệ thuật ở Châu Âu như Anh, Pháp v.v… Loại thú làm con rối thường là con khỉ hay con quạ, có khi mặt một người nổi tiếng, hay một trẻ em. Lời nói qua lại thường là những lời chọc cười, châm biếm hay nói tục nhẹ nhàng. Ở nước ta nghệ thuật này chưa thấy ai trình diễn, vì nói bằng hơi bụng tập hơi khó và lâu nên chưa có ai chịu làm.
![]()
Hình Wikipedia
