tuefdienx.com

chuer Quooc Nguer 3 Chữ Quốc Ngữ 3

Chữ Quốc Ngữ 3, dt

A: Third Vietnamese script
P: Troisième écriture Vietnamienne 

Chữ Quốc Ngữ xưa nay là chữ Quốc Ngữ 1 có dấu đánh thêm. Chữ Quốc Ngữ 2 là chữ Quốc Ngữ mà các dấu đánh thêm đã được thay thế bởi một số mẫu tự lựa chọn thích hợp. Cả hai chữ Quốc Ngữ này đều là chữ âm thanh, dùng bảng mẫu tự La Tinh abc… làm căn bản, chứ không có kỹ thuật ghi ý như  chữ Nôm và chữ Hán ngày xưa. Vì vậy mà có rất nhiều lầm lẫn trong sự phân biệt ý nghĩa khác nhau của những tiếng đồng âm, nhất là trong tiếng Hán mà mình đã hay mượn dùng.

Bảng mẫu tự của chữ Quốc Ngữ 1 gồm có 29 chữ cái sau đây:

A, Ă, Â, B, C, D, Đ, E, Ê, G, H, I, K, L, M, N, O, Ô, Ơ, P, Q, R, S, T, U, Ư, V, X, Y.
Và có thể thêm 4 mẫu tự ít khi dùng là: F, J, W, Z.

Bảng mẫu tự của chữ Quốc Ngữ 2 gồm có 26 chữ cái, như bảng mẫu tự La Tinh, không có dấu đánh thêm, như sau:

A, B, C, D, E, F, G, H, I, J, K, L, M, N, O, P, Q, R, S, T, U, V, W, X, Y, Z.

Chữ Quốc Ngữ 3, còn gọi là chữ Âu Lạc, là chữ Quốc Ngữ gồm có hai phần: 

- Phần ghi ý, gọi là phần ý hay bộ thủ.
- Phần ghi âm, gọi là phần âm.

Phần ý là một hình vẽ tượng trưng ý nghĩa chính của chữ, gần giống như các bộ thủ của chữ Nôm hay chữ Hán, nhưng đơn giản hơn.

Phần âm là một chữ âm thanh, gồm nhiều mẫu tự âm thanh cực kỳ đơn giản, được sắp xếp chồng chéo lên nhau theo một thứ tự định trước mà thành, như sau:

PHẦN Ý chữ Quốc Ngữ 3 gồm có 2 loại:

1- Loại bộ thủ Việt, dùng để viết tiếng Việt thuần túy.
2- Loại bộ thủ Hán, dùng để viết tiếng Hán quen dùng.

Ví dụ bộ thủ Việt:

Ví dụ bộ thủ Hán:

PHẦN ÂM chữ Quốc Ngữ 3 gồm có 4 loại:

1- Phụ âm đầu có 29 phụ âm vừa đơn vừa kép:

2- Nguyên âm giữa có 12 nguyên âm:

3- Phụ âm cuối có 8 phụ âm vừa đơn vừa kép:

4- Dấu giọng có 5 loại: 

Ví dụ chữ Quốc Ngữ 3:

Chữ Quốc Ngữ 3 chỉ có vậy, không có gì nhiều, nhưng đầy đủ ý nghĩa, vừa âm vừa ý, nên không gây sai lầm về ý nghĩa của các tiếng đồng âm. Chữ này dùng để viết những bài có độ chính xác lớn và cũng để viết thư pháp tiếng Việt, rất bay bướm và đẹp mắt.

Tuy rằng có ba chữ Quốc Ngữ, nhưng chỉ có chữ Quốc Ngữ 1 là được nhà nước công nhận xưa nay. Còn hai chữ Quốc Ngữ kia, chỉ là tự ý đặt ra để viết tiếng Việt cho thật dễ dàng, rõ ràng và chính xác. Ai thích thì dùng, và nó không có tính cách chính thức. Đó chỉ là một ý nghĩ vi vu, chỉ muốn sao cho nước mình có chữ mình để dùng mà không lệ thuộc vào chữ của người khác, không rõ ràng chính xác, chỉ vậy thôi.

Fuko 19-11-2020 

Hình NHP