chữ Quốc Ngữ, dt
A: Vietnamese national language script
P: écriture de la langue nationale Vietnamienne
H: yuè nán yǔ zì mǔ 越南語字母
(Việt Nam ngữ tự mẫu)
N: Chiyu kuotsuku guu
チュ・クオック・グー
Chi yu- ku o tsu ku- guu
Chữ Quốc Ngữ là chữ viết tiếng Việt bằng bộ chữ cái La Tinh abc… được tạo thành bởi các giáo sĩ Bồ Đào Nha (Portugal) khi họ qua truyền đạo Thiên Chúa ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 17. Đó là giáo sĩ Gaspar do Amaral và Antonio Barbosa. Sau đó giáo sĩ người Pháp là Alexandre de Rhodes (A Lịch Sơn Đắc Lộ) đã dùng hai cuốn sách từ điển viết tay Việt- Bồ của Gaspar do Amaral và Antonio Barbosa để soạn hai cuốn sách chữ Quốc Ngữ đầu tiên là cuốn Từ điển Việt Bồ La (Việt Nam- Bồ Đào Nha- La Tinh), (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) và cuốn sách Phép giảng tám ngày cho kẻ chịu rửa tội (Catechismus pro iis qui volunt suscipere Baptismum in octo dies divisus) xuất bản ở La Mã (Rome) năm 1651.
Bảng chữ cái chữ Quốc Ngữ gồm có 29 chữ như sau:
A, Ă, Â, B, C, D, Đ, E, Ê, G, H, I, K, L, M, N, O, Ô, Ơ, P, Q, R, S, T, U, Ư, V, X, Y.
Ngày nay vì phải giao tiếp với các nước tân tiến Âu Mỹ mà có thêm 4 mẫu tự sau đây cũng thường được dùng là: F, J, W, Z.
Một chữ Quốc Ngữ được cấu tạo nhiều nhất là bởi 4 thành phần, như sau:
Phụ âm đầu+ nguyên âm giữa+ phụ âm cuối+ dấu giọng
Phụ âm đầu gồm có phụ âm đơn và kép. Đơn là có một phụ âm, kép là có 2 hay 3 phụ âm, như sau:
B, C, D, Ñ, G, H, K, L, M, N, P, Q, R, S, T, V, X. CH, GH ,GI, KH, NG, NH, PH, TH, TR, NGH,
Và F, J, W, Z.
Nguyên âm giữa gồm có nguyên âm đơn và kép. Đơn là có một nguyên âm, kép là có 2 hay 3 nguyên âm, như sau:
A, Ă, Â, E, Ê, I, O, Ô, Ơ, U, Ư, Y.
AI, AO, AU, AY, ÂU, ÂY, EO, ÊU, IA, IU, OA, OE, OI, ÔI, ƠI, UA, UÊ, UI, UƠ, UY, ƯA, ƯI, ƯU, IÊ.., YÊ.., OĂ.., OO.., UÂ.., UÔ.., ƯƠ…
IÊU, YÊU, OAI, OAO, OAY, OEO, UÂY, UÔI, UYA, ƯƠI, ƯƠU, UYÊ…
Phụ âm cuối gồm có phụ âm đơn và kép như sau:
C, M, N, P, T, CH, NG, NH.
Dấu giọng để ghi âm giọng lên xuống của tiếng Việt gồm có 5 dấu như sau: huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã, viết bên trên và dưới các nguyên âm.
Chữ Quốc Ngữ được đặt ra trong một hoàn cảnh đặc biệt, sơ sài, tạm bợ lúc ban đầu, và gấp rút, hồ hởi về sau, cho nên có rất nhiều ưu điểm và nhược điểm như sau:
Điểm tốt của chữ Quốc Ngữ là dễ học dễ viết. Số chữ cái ít, đường nét dễ nhớ, có âm thanh, nên âm nói của tiếng Việt được diễn tả một cách dễ dàng tốt đẹp. Ngoài ra, vì mẫu tự rời xa nhau, nên việc in sách bằng chữ đúc sẵn, rất mau chóng. Từ đó sách báo phát hành nhiều, người dân học hỏi lẹ, tiến bộ mau trên mọi mặt, từ chính trị, kinh tế, xã hội, cho đến văn học, nghệ thuật, khoa học và kỹ thuật v.v…
Điểm chưa tốt của chữ Quốc Ngữ gồm có hai loại:
1- Dấu đánh thêm quá nhiều, viết tay thì mau, nhưng đánh máy thì lâu, và không xử dụng nhẹ nhàng lưu loát các loại máy điện tử ngày nay.
2- Không có kỹ thuật ghi ý để phân biệt các tiếng đồng âm khác nghĩa, nhất là các tiếng mượn từ tiếng Hán. Mỗi tiếng Hán có rất nhiều ý nghĩa khác nhau. Nếu chỉ viết bằng chữ phiên âm giống nhau thì có thể hiểu lầm ý nghĩa. Vì vậy chữ Hán thường dùng bộ thủ để ghi ý khác nhau của những tiếng đồng âm. Chữ Quốc Ngữ không làm được việc này. Có thể nói rằng đó là sự yếu kém lớn nhất của chữ Quốc Ngữ. Sự yếu kém này sau 100 năm dùng chữ Quốc Ngữ đã ảnh hưởng rất nhiều đến sự trong sáng của những tiếng Việt gốc Hán thường được mượn dùng. Biết đâu một ngày nào đó sẽ có người đứng ra sửa chữa lại hai sự yếu kém này, để chữ Quốc Ngữ có thể sánh vai ngang hàng với những loại chữ tốt đẹp nhất của thế giới ngày nay . Được như vậy, dân tộc sẽ vui sướng vô cùng.
![]()
Alexandre de Rhodes- Hình Wikipedia
![]()
Phép giảng tám ngày cho kẻ chịu rửa tội - Hình Wikipedia
![]()
Từ điển Việt Bồ La - Hình Wikipedia
