tuefdienx.com

Phaetz Phật

Phật, dt

A: Buddha (BU đa)

P: Bouddha

H: fó 佛

   (Phật)

N: budda 仏陀

ぶっだ

bu tsu da

 

Phật còn gọi là Bụt là người biết hết đủ thứ sâu rộng, không còn bị trói buộc bởi thể xác nặng nề, nhờ tu tập chuyên cần.

Sự tập luyện để thành Phật rất khó khăn, nên ít ai thành Phật được. Tuy nhiên nếu ai tập luyện chuyên cần theo một phương pháp nào đó mà biết được đủ thứ cao xa hơn loài người có thể biết, từ hữu hình đến vô hình, thì người đó được gọi là Phật. Bởi vậy ai cũng có thể thành Phật, nếu chịu khó tập luyện.

Phương pháp tập luyện có rất nhiều cách. Mỗi tôn giáo đều có cách tập riêng của mình. Nhưng thành công thì rất hiếm, vì sự ràng buộc của cuộc sống làm người. Phương pháp của đạo Phật, đạo Chúa, đạo Lão đều có mục đích thành Phật, nhưng mỗi nơi gọi một tên khác nhau. Thành Phật khó, nên tập suốt đời chưa chắc đã thành công. Tuy nhiên tập luyện thành Phật rất tốt, vì con người trở nên càng ngày càng thánh thiện, không thành Phật được cũng thành Thánh, là cũng vui rồi.

Cách đây 2500 năm, ở Ấn Độ có Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Sau đó 250 năm thì ở nước Tàu có Đức Lão Tử, cũng là một vị Phật ẩn danh. Đầu công nguyên ở nước Do Thái có Đức Chúa Jê Su, cũng là một vị Phật, nhưng vì người ta quá sùng kính mà gắn thêm nhiều tên hiệu khác nhau. Ngoài ra trên toàn cầu ngày nay, cũng đang có nhiều vị Phật khắp nơi, có hình hài hay không hình hài, sống ẩn dật, người đời có gặp cũng không biết được. Để chi? Để giúp loài người trong bóng tối mà khỏi bị phá rầy, như các vị Phật trước đây đã bị, rất phiền hà.

Hình Wikipedia

Sự tích Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là người sống bình thường như mọi người, nhưng tình thương và giáo lý của Người thật là phi thường.

1- Cách đây hơn 2500 năm (563 trước dương lịch), ở một thành phố nọ tên là Kapilavathu (Ca Tỳ La Vệ), nay đổi tên là Bulin, có một vì vua dòng Sakya (Thích Ca) tên là Sudonana hùng cứ một nước nhỏ miền đông bắc Ấn Độ, gần biên giới nước Nepal ngày nay. Hoàng hậu tên là Maha Maya, xinh đẹp vô cùng. Sau khi hạ sanh được một hoàng tử đặt tên là Sidattha (Sĩ Đạt Ta) thì bà mất. Nhà vua sau đó kết hôn với em gái của hoàng hậu tên là Maha Pajapati Gotami tức là dì ruột của hoàng tử Sidattha.

Hoàng tử Sidattha được người dì nuôi khôn lớn cho đến 16 tuổi thì thành hôn với một công chúa xinh đẹp trong vòng bà con tên là Yasodara và 13 năm sau thì hạ sanh được một bé trai đặt tên là Rahula (La Hầu La).

Hoàng tử Sidattha, họ là Gotama (Cồ Đàm), sau khi công chúa sinh được một người con trai đầu tiên, thì âm thầm quyết định từ bỏ gia đình và cung điện giàu sang, ra đi cùng với một người đánh xe thân tín, để tìm kiếm một sự viêc mà hoàng tử ngày đêm ấp ủ, Sự việc đó hoàng tử Sidattha đã để tâm suy gẫm sau khi gặp những cảnh tượng đau lòng của cuộc đời bên ngoài cung điện, đó là: cảnh già nua, bệnh hoạn và chết chóc.

Cuộc đời của những đạo sĩ trang nghiêm thanh tịnh thời bấy giờ đã hấp dẫn hoàng tử hơn là cuộc sống xa hoa trong cung điện vua chúa, Vì vậy, sau một thời gian suy gẫm, hoàng tử cuối cùng quyết định ra đi, từ bỏ ngai vàng tương lai, vợ đẹp con thơ cùng bạc vàng châu báu, để đi tìm một sự thật cao quý hơn, là làm thế nào diệt trừ được sự khổ đau, bệnh hoạn và chết chóc của con người.

2- Sau khi rời khỏi cung thành và băng qua con sông Anoma, hoàng tử Sidattha dừng lại, cắt ngắn tóc râu, thay bỏ tất cả áo quần đẹp đẽ, rồi quấn vào mình chiếc áo đơn giản của các người đạo sĩ thường mang lúc bấy giờ. Sau đó hoàng tử bảo người đánh xe trở về thành báo tin cho vua cha cùng gia đình biết rõ mọi việc.

Hoàng tử lúc bấy giờ mới thật rảnh rang, liền đi lang thang bất định. Việc làm đầu tiên của hoàng tử là đi kiếm thầy học đạo, cho nên đến kiếm một vị đạo sĩ tên là Alarama Kalama và sau đó học hết giáo lý của vị này gồm có: trạng thái cảnh giới hư không đạt được bằng trí tuệ và trực giác.

Sau đó hoàng tử lại đến tìm gặp một vị đạo sĩ thứ hai tên là Rampaputa và học hết giáo lý của vị này gồm có: trạng thái không hình tướng, không suy nghĩ và cũng không không suy nghĩ.

Tuy đã học hết các giáo lý cao siêu của hai vị đạo sĩ này mà hoàng tử Sidattha vẫn chưa vừa ý, vì chỉ thấy thân xác trí tuệ mình có tiến bộ cao siêu, nhưng chẳng tìm thấy cái phương pháp làm sao cứu người hết đau khổ, bệnh hoạn, già nua, chết chóc. Hoàng tử bèn quyết định từ giã hai vị thầy này và cùng bốn người bạn học tên là Badiya, Vapa, Mahanama, Assaji và một người đạo sĩ quen biết tên là Kondana, đi tìm đạo bằng cách tự tu tập lấy một mình.

Vì không có thầy nên sáu người tự thử qua mọi cách tu tập như: nhịn đói, nín thở, ngồi thiền v.v…Sau sáu năm trường tu tập như vậy, thân xác mỗi người khô héo, chỉ còn da bọc xương, mà chẳng tìm ra được chút chân lý nào. Cuối cùng hoàng tử Sidattha nói với năm người bạn cùng tu là mình không tu theo khổ hạnh nữa mà sẽ đổi qua lối ăn uống bình thường để có sức lực tiếp tục tìm tòi chân lý. Năm người bạn cũ tưởng hoàng tử Sidattha đã nhụt lòng thối chí nên khinh thường bỏ đi tu tập ở một vườn cây xa xôi khác.

Thế là hoàng tử Sidattha không còn bạn cùng tu, bèn tự tu tập một mình. Hoàng tử bắt đầu ăn uống trở lại bình thường, không kham khổ nhịn đói như xưa nữa. Một đêm nọ, khi đang ngồi dưới gốc cây bồ đề để tham thiền như thường lệ, hoàng tử bỗng nhiên thấy trong người biến đổi lạ thường và phút chốc, từ đầu hôm cho đến tảng sáng, đã tìm ra được hết tất cả những gì lâu nay tìm kiếm mong chờ. Chìa khóa diệt khổ đau, bệnh hoạn, chết chóc đã được tìm ra. Trong một đêm lịch sử ấy hoàng tử đã tìm thấy ba vấn đề quan trọng sau đây:

- Trước hết là muốn tu tập thì đừng ăn uống sung sướng quá mà cũng đừng kiên nhịn quá mức. Ngược lại, phải ăn uống bình thường. Đó là lý thuyết vừa chừng, trung bình, ở giữa hay còn gọi là Trung đạo.

- Sau đó là hoàng tử đã tìm ra được bốn sự thực cao quý trong con đường cứu khổ, tiếng Hán gọi là Tứ diệu đế, gồm có:

   - Khổ là gì
   - Nguồn khổ là gì
   - Sướng là gì
   - Con đường đi từ khổ đến sướng là gì

- Vấn đề cuối cùng hoàng tử tìm thấy được và cũng là vấn đề quan trọng nhất, đó là sự tạm bợ, không nghĩa lý của vật chất, xác thịt, hiểu biết và danh vọng v.v… mà con người cứ cho rằng những cái đó là thật của mình, mình có thể giữ nó bên mình mãi mãi. Từ đó thuyết “chẳng có gì là mình”, tiếng Hán gọi là Vô ngã, một lý thuyết cao siêu mà hoàng tử đã tìm ra sau bao nhiêu năm gian khổ.

Đến sáng hôm sau, qua một đêm không ngủ, hoàng tử Sidattha rất vui mừng khoan khoái, thấy mình đã hiểu hết sự thật sau sáu năm trường tìm kiếm. Chẳng những vậy, trí óc hoàng tử sáng suốt lạ thường, hiểu biết mọi sự mọi vật một cách tức thì.

Hoàng tử mĩm cười tự nói rằng: “Ta đã thành Phật, ta đã khai thông toàn trí tuệ, biết hết mọi điều”. Đó là kết quả của một tâm hồn biết thương xót sự đớn đau của con người, biết kiên trì tu tập trong sáu năm khổ cực, để rồi chỉ một đêm ngắn mà biết hết một con đường dài.

Hoàng tử Sidattha đã thành Phật, nhưng cũng chưa chắc là mình đã thành Phật, nên đã thử ném cái bát ăn xin xuống giòng sông trước mặt để chảy xuôi theo dòng rồi nói: “Nếu ta đã thành Phật thì cái bát gỗ này sẽ trôi ngược giòng sông và trở về với ta”. Quả vậy, chiếc bát gỗ đã trôi ngược giòng sông và trở về nơi hoàng tử vừa mới thả. Lần này hoàng tử tự bảo: “Ta đã thành Phật” và sung sướng trong lòng vô cùng.

3- Để trầm ngâm vui hưởng sự sung sướng thành đạo đó, Phật Sidattha, hay Phật Gotama, hay Phật Sakya (Thích Ca), hay Phật ngắn gọn, ngồi không ăn uống suốt bảy tuần lễ (49 ngày). Lúc đó Phật được 35 tuổi.

- Tuần lễ thứ nhất, Phật ngồi suy nghĩ về mười hai nhân duyên gây nên mọi sự việc và luật nhân quả, gieo hạt gì thì ra trái đó.

- Tuần lễ thứ hai, suốt bảy ngày, Phật đứng nhìn cây bồ đề để cám ơn công che mưa đỡ nắng của nó từ khi Phật mới tu cho đến khi thành đạo. Đó là tình thương vô biên của Đức Phật đối với muôn loài muôn vật.

- Tuần lễ thứ ba, Phật xem xét lại các phép thần thông đã đạt được tự nhiên mà người thường không bao giờ có.

- Tuần lễ thứ tư, Phật ôn lại lý luận về thuyết nhân quả cho thật thông suốt rõ ràng. Chừng ôn xong, trí tuệ Phật trong sáng vô cùng và cả thân người hào quang chói lòa đủ màu sắc. Đó là lần thứ nhất cơ thể Phật phát hào quang chói lọi như vậy.

- Tuần lễ thứ năm là tuần lễ thử thách. Một đạo sĩ hỏi khó Phật về đạo và được Phật giải đáp rõ ràng. Sau đó là ba người đàn bà đẹp đến quyến rũ Phật, nhưng chẳng lay chuyển được gì.

- Tuần lễ thứ sáu, mưa to gió lớn. Phật đang ngồi dưới gốc cây thì bỗng nhiên trong thân cây hiện ra một con rắn to lớn, quấn vòng xung quanh người Phật để chắn gió và xòe mang như cánh quạt lên đầu Phật để che mưa.

- Tuần lễ thứ bảy là tuần lễ yên tịnh. Phật đi qua một gốc cây khác ngồi, nghe ngóng trong người, hưởng sự thanh tịnh của người vừa mới thành Phật.

4- Sau khi thành đạo, Đức Phật Thích Ca phân vân không biết có nên nói việc này cho ai hay, vì cái Phật tìm ra, từ trước đến giờ chưa ai nói đến, và nếu có nói ra liệu có ai hiểu nổi chăng. Nhưng cuối cùng, vì tình thương rộng lớn, muốn dùng chân lý vừa mới tìm ra để giúp con người hết khổ, cho nên Đức Phật quyết định sẽ rao giảng lý thuyết cao siên này cho mọi người, không phân biệt ai, miễn ai có tai thì cứ nghe.

Nghĩ vậy, Phật mới đi tìm lại hai người thầy cũ ngày xưa để nói với họ tin lành này, nhưng cả hai đều đã chết. Sau đó Phật lại đi tìm năm người bạn cũ đang tu ở trong một vườn xa. Khi gặp năm người này Phật báo tin vui thì họ không tin và vẫn còn có ý khinh thường. Sau khi thấy Phật vẫn hiền hòa, thật lòng, thì họ chịu nghe kể chuyện và nghe suốt mấy ngày liền. Họ cuối cùng thức tỉnh, hiểu hết giáo lý căn bản cao siêu của Đức Phật. Họ rất vui mừng, theo Phật làm năm người học trò đầu tiên.

5- Phật và năm người bạn cũ, vừa là học trò, bắt đầu đi rao giảng con đường cứu khổ đã tìm ra cho mọi người nếu có ai chịu nghe. Chẳng bao lâu số học trò lên được 60 người. Phật giảng hết cho họ nghe những gì Phật đã tìm ra và họ thông hiểu hết. Sau đó Phật nhờ các người này đi rao giảng phương pháp tốt lành để giúp con người sớm chấm dứt sự khổ đau.

Chẳng bao lâu con số học trò lên đến 500, rồi 1000 và tăng mãi cho đến ngày Phật qua đời cũng có hơn mấy ngàn người theo chân Phật tu tập học đạo. Vì số học trò quá đông nên Phật nhờ các học trò giỏi đứng ra lập một hội gọi là “hội những người độc thân” để cho có trật tự mà theo Phật tu tập. Về sau, hội này trở thành “giáo hội tăng già” và tiếp tục thông lệ đó cho tới ngày nay.

6- Nhờ có nhiều vị vua, nhà giàu giúp đỡ lập nhà tu rộng rãi mà Phật cùng các học trò có thể đi đây đó rao giảng đạo pháp khi trời nắng tốt và về tu học tại nhà tu trong những mùa mưa gió. Vùng Phật đi giảng đạo là vùng xung quanh sông Ganges (Hằng) và vì phải đi bộ nên sau một đời rao giảng, Phật chỉ quanh quẩn các thành phố làng mạc sau đây: Lumbini là nơi Phật sinh ra, Kapilavathu là thành phố lớn, rồi Vesali, Pataliputta, Rajagaha, Budoha Gaya nơi Phật thành đạo, Sarnath là nơi Phật giảng đầu tiên, Varanasi (Benares) là thành phố tâm linh, Papa, và Kusinara là nơi Phật qua đời, nhập Niết Bàn.

Trong đời Phật, người thương Phật rất nhiều mà kẻ ganh ghét Phật cũng không ít. Trong số đó có người em họ tên là Devadatta (Đề Bà Đạt Đa) cùng theo Phật tu tập, mà vì lòng tham và ganh ghét nên đã tổ chức lăn đá làm Phật bị thương, hoặc phục voi uống rượu say để hại Phật nhưng không thành.

Ngoài các giáo lý căn bản đầu tiên mà Phật đã tìm ra và giảng cho năm người bạn cũ, suốt trong gần 50 năm truyền đạo, Phật đã giảng thêm hằng hà sa số vấn đề khác để giúp cho học trò tu tập, trong đó có nhiều vấn đề rút ra từ đạo Ấn Độ cổ xưa. Lúc bấy giờ lời Phật dạy chỉ được truyền miệng, chưa được chép thành sách. Phải mấy trăm năm sau lời Phật mới được chép lại thành Kinh để học hành tu tập. Kinh là sách ghi chép lại lời giảng, lời khuyên của Phật, được viết theo hai thứ chữ khác nhau: chữ Sanscrit (Bắn Phạn) của dân tộc Ấn Độ phía Bắc và chữ Pali (Nam Phạn) của người miền nam, trong đó có nước Tích Lan (Sri Lanka) nằm dưới chân nước Ấn Độ. Mấy thế kỷ sau mới có người dịch kinh Phật ra chữ Trung Hoa và từ đó dịch sang chữ Việt, chữ Nhật Bản, Đại Hàn v.v…

7- Vài năm sau khi Phật thành đạo, vua cha mời được Phật về thăm quê và gia đình, sau bao nhiêu lần bị Phật từ chối. Khi về đến nhà, nhờ tình thương bao la và giáo lý đẹp đẽ mà Phật đã thức tỉnh được toàn thể gia đình theo tu tập đạo Phật, từ vua cha, mẹ nuôi, đến vợ và con trai, ai cũng được kết quả. Về sau mẹ nuôi của Phật được Phật cho phép mở ra một hội tu phái nữ, sau bao nhiêu lần bị Phật từ chối.

Năm Phật 80 tuổi, Phật biết trước ngày mất nên dẫn học trò về một làng hẻo lánh để qua đời. Trước khi mất, Phật khuyên nhủ học trò phải cố gắng tự mình tu tập cho có thành quả và thêm rằng: mọi phương pháp tập quá hình thức đều là giả tạo. Trong những ngày cuối cùng, Phật đã nhắc những học trò thân yêu câu nói kết luận của tất cả lý thuyết cao siêu mà Phật đã giảng suốt cả đời mình, đó là:

“Như Lai thuyết pháp trong khoảng 49 năm nay… mà chưa từng nói một lời nào cả”

Quả thật vậy, giáo lý của Phật có thể gói ghém trong câu nói ngắn gọn kể trên. Đó là cái không của vũ trụ, nói không được, giảng cũng không được, chỉ có tự mình tu tập mới nghe thấy được. Đó là chìa khóa giải thoát con người hết mọi ràng buộc khổ đau, bệnh hoạn, chết chóc, để quay về với định luật của vũ trụ là tự nhiên, bình thường, hư vô, vắng lặng, nơi yên tỉnh êm đềm sung sướng của cảnh niết bàn, nơi mà sự sống chết không còn lập đi lập đi lập lại nữa.

Nghiên cứu đời sau mới thấy rằng cái không của vũ trụ chính là linh hồn (bản tâm) đang trú ẩn trong mọi thân xác của mỗi người. Gặp được linh hồn mình, mọi người đều thành Phật. Muốn gặp được linh hồn mình, chỉ cần sống khiêm nhường, nhẫn nhục, lắng nghe hết mà không nói một lời nào, để trí óc hoàn toàn lặng yên, linh hồn ló dạng, mang sáng suốt vui tươi đến cho mỗi ngưởi, đễ sống vui, sống khỏe, sống ích lợi cho muôn người và muôn loài, cho đến cuối đời.

Fuko
(Phỏng theo sách Đức Phật và Phật Pháp của Ngài Narada Maha Thera)

Hình Wikipedia