xây dựng, dt
A: construction (cần TRẮC sân)
P: construction, f
H: jiàn zhù shī gōng 建筑施工
(kiến trúc thi công)
N: kensetsu 建設
けんせつ
ke n se tsu
(kiến thiết)
Xây dựng còn gọi là xây cất là một ngành nghề đã thay đổi thế giới chung quanh chúng ta. Các kỹ sư xây dựng đã xây những công trình to lớn nhất trong thế giới ngày nay. Nào là hệ thông đường xá, cầu cống, đường hầm, đê đập, nhà chọc trời và các nhà máy năng lượng điện. Vật liệu xây dựng đa số là bê tông và thép.
Mỗi khung sường của công trình đều có một tầng số rung chuyển tự nhiên còn gọi là tầng số cọng hưởng. Nếu một khung sườn của một công trình bị rung động đến tầng số cọng hưởng của nó thì sẽ bị rung lắc ghê gớm có thể dẫn đến nứt nẻ và sụp đổ hoàn toàn. Bởi vậy, người kỹ sư phải xem chừng sức gió, sức nước, sức động đất chung quanh công trình không làm cho công trình rung chuyển đến tầng số cọng hưởng của nó. Bởi vậy người ta phải thử nghiệm các mẫu thu nhỏ của công trình trong các hang gió, luồng nước hay thiết bị rung động thế cho động đất, để xem có gì xảy ra hay không. Các kỹ sư còn dùng máy điện toán để tính toán, phân tích và dự đoán trước những vấn đề có thể xảy ra cho công trình.
Có những dạng của đồ vật có độ chắc bền lớn nhất, đó là hình ống tròn và hình tam giác. Bởi vậy những chiếc cầu hay tháp cột điện thường được xây dựng bởi những thanh thép nối các đầu với nhau bởI những đi ốc, làm sao để tạo cho thật nhiều hình tam giác. Từ đó sự truyền lực sẽ dễ dàng hữu hiệu nhất qua toàn thể khung sường của công trình và chạy xuống đất bình an. Đường hầm và cột trụ các giàn khoan dầu ngoài biển đều có hình dạng ống tròn vì nó chống sự oằn uốn rất hiệu quả. Có nhiều loại nhà cao tầng và cũng có rất nhiều loại cầu có thể thấy được trên thế giới.
![]()
Hình Wikipedia
