mít, dt
P: jacquier; pomme jacque
A: jackfruit (JĂC frut)
H: bō luó mì 菠蘿蜜
(ba la mật)
N: paramitsu
パラミツ
pa ra mi tsu
Loại cây gỗ lớn xứ nóng có mủ trắng như sữa, có lá cứng láng, cho trái lớn hàng mấy chục kí, bên trong có múi màu vàng, thơm, ngọt, ăn được.
Mít có nguồn gốc từ Ấn Độ cao chừng 20 mét. Vỏ trái mít có nhiều nụ gai không nhọn lắm nhưng có thể làm đau, Bên trong trái mít là nhiều múi mít màu vàng dính quanh một cùi chính giữa. Chen giữa các múi mít là xơ mít. Bên trong của múi mít là hạt mít. Thịt múi mít thơm ngọt, có loại giòn sừn sựt gọi là mít ráo, mít dừa, có loại nhảo gọi là mít ướt. Mít có nhiều mật ngọt gọi là mít mật. Hạt mít luộc hay nướng ăn bùi và thơm ngon. Xơ mít dùng muối chua. Mít còn non thì dùng để nấu canh hay xào tôm thịt. Mít non mới nhú ra gọi là dái mít, chấm muối ớt ăn sống được rất ngon, vì có vị chát như quả vả hay quả sung. Gỗ mít chắc, cứng và có nhiều vân, nên được dùng làm chén bát gỗ, thớt, tượng rất đẹp. Mít ăn ngon nhưng xẻ mít và bóc múi mít ra rất là khó chịu vì mủ dính đầy các ngón tay. Ăn mít nhiều không tốt vì khó tiêu.
Có loại mít có rất nhiều trái nhỏ gọi là mít tố nữ. Khi xẻ trái mít này vừa phải và kéo cùi mít ra, tức thì các múi dính chặt với cùi cũng ra theo luôn. Như vậy khòi mất công gỡ từng múi mít ra rất dơ tay.
Ngày xưa, thời 1950 về trước, học trò học không thuộc bài thường bị thầy bắt quỳ xơ mít. Có nghĩa là lật hai mảnh vỏ mít đặt xuống đất sao cho các gai mít nhọn hướng lên trời. Khi quỳ thì đặt hai đầu gối lên trên hai mảnh vỏ mít đó, rất đau, nhưng không chảy máu, chỉ có dấu ấn đỏ thôi.
Hình Wikipedia
