chuột túi cồ, dt
A: kangaroo (kan gơ RU)
P: kangourou, m
H: dài shǔ 袋鼠
(đại thử), đại: túi, thử: chuột
N: kangaruu
カンガルー
かんがるう
ka n ga ru u
Loài thú ăn cỏ ở nước Úc và các đảo lân cận như Tân Ghi Nê, đầu nhỏ, hai chân trước ngắn, hai chân sau dài khỏe để nhảy phóng, và một đuôi dài mập khỏe.
Chuột túi cồ thường sống trên mặt đất. Có loại chuột túi lông đỏ và lông xám. Có nhiều loại nhỏ hơn.
Chuột túi cồ thuộc nhóm động vật mà con của chúng được sinh ra trước khi phát triển đầy đủ, sau đó được mang trong túi. Thông thường, chúng sinh ra mỗi lứa một con. Lúc sinh, chuột con có màu đỏ, chưa có mắt và tai rất nhỏ: dài khoảng 2,54 cm, nặng khoảng 0,8 đến 1 gam. Chúng bò đến túi của mẹ để bú rồi ở đó trong khoảng 8 tháng. Sau khi ra ngoài, chúng vẫn phải bú sữa mẹ đến 1 tuổi.
Tất cả các loài chuột túi cồ đều có chân sau khoẻ, bàn chân dài và hẹp. Chúng ngồi trên những đôi chân này và đuôi xù to vững chắc. Nếu kiếm ăn hoặc di chuyển ở tốc độ chậm, chúng dùng tất cả bốn chân, còn khi đi nhanh thì chúng di chuyển bằng cách nhảy vọt. Đuôi của chúng giúp cơ thể giữ thăng bằng khi nhảy. Khi có giao tranh giữa hai con đực, chúng có thể đứng trên đuôi và dùng hai chân sau để tự vệ.
Chuột túi cồ chủ yếu hoạt động vào ban đêm. Vào những tháng mát trời, chúng có thể kiếm ăn cả ngày. Thức ăn của chúng chủ yếu là nấm, các loài cây, sâu bọ,...
Trong lịch sử, chuột túi cồ đã từng là nguồn cung cấp thức ăn cho thổ dân châu Úc. Thịt chuột túi cồ có nhiều protein và ít chất béo.
Hình Wikipedia
